TP. Hồ Chí Minh, ngày 19/6/2025_ Liên minh châu Âu (EU) đã ban hành Quy định chống mất rừng (EUDR) nhằm đối phó với tình trạng mất rừng do nguyên nhân sản xuất cây hàng hóa. Quy định này áp dụng với 7 nhóm mặt hàng, bao gồm cao su, chính thức có hiệu lực từ ngày 30/12/2025. Theo EUDR, các mặt hàng này khi xuất khẩu vào EU phải đảm bảo (a) toàn bộ các hoạt động trong chuỗi cung từ khâu sản xuất tới xuất khẩu phải đáp ứng với tất cả các yêu cầu của quốc gia sản xuất, đảm bảo việc truy xuất và (b) quá trình sản xuất không gây mất rừng.
Ngành cao su là một trong những ngành hàng xuất khẩu quan trọng của Việt Nam. Năm 2024 kim ngạch xuất khẩu cao su nguyên liệu và sản phẩm cao su đạt gần 8,5 tỷ USD. EU là thị trường lớn thứ 3 của ngành, với kim ngạch xuất khẩu trong cùng năm đạt 627 triệu USD (7,4% trong tổng kim ngạch). Trung Quốc là thị trường tiêu thụ lớn nhất của ngành, với kim ngạch năm 2024 từ thị trường này đạt 2,6 tỷ USD (30,3% trong tổng kim ngạch), chủ yếu là từ mặt hàng cao su thiên nhiên. Tại đây, một lượng cao su thiên nhiên nguồn gốc từ Việt Nam được đưa vào chế biến và xuất khẩu sang EU ở dạng sản phẩm cuối cùng.

Ảnh 1: Công nhân thu hoạch mủ cao su tại Công ty Cao su Đồng Phú, Bình Phước. Nguồn: Forest Trends
Nguồn cung nguyên liệu cho ngành cao su Việt Nam bao gồm nguồn trong nước và nhập khẩu. Việt Nam hiện có gần 910 ngàn ha cao su, 55% trong đó là từ các hộ tiểu điền (khoảng 264 nghìn hộ). Phần 420 ngàn ha còn lại là cao su đại điền, chủ yếu là diện tích của các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam. Năm 2024, nguồn cung từ tiểu điền chiếm 63% trong tổng 1,3 triệu tấn cao su nguyên liệu trong nước, 37% lượng cung còn lại là từ các doanh nghiệp.
Nguồn cung nhập khẩu, chủ yếu là từ Campuchia và một phần từ Lào, có vai trò đặc biệt quan trọng đối với ngành hiện nay. Năm 2024, Việt Nam nhập khẩu gần 620 ngàn tấn cao su thiên nhiên từ Campuchia (56% tổng lượng nhập khẩu) và 190 ngàn tấn từ Lào (17%). Nguồn cung nhập khẩu này được hoà trộn với luồng cung trong nước, chế biến và xuất khẩu. Lượng nhập khẩu từ Campuchia và Lào có xu hướng tăng. Điều này cho thấy mức độ phụ thuộc ngày càng lớn của ngành vào nguồn cung tại các nước lân cận. “Đáp ứng EUDR đòi hỏi ngành cao su Việt Nam phải kiểm soát chặt chẽ nguồn cung nhập khẩu, đảm bảo việc truy xuất tới tận thửa đất canh tác đối với nguồn cung này” – Tiến sĩ Nguyễn Vinh Quang, chuyên gia nghiên cứu của Forest Trends nhấn mạnh.

Ảnh 2: Công nhân đang sản xuất cao su trong nhà máy. Nguồn: Forest Trends
Việt Nam hiện đã và đang hình thành các mô hình cao su đại điền và tiểu điền đáp ứng EUDR. DN đáp ứng EUDR chủ yếu là các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn. Mô hình tiểu điền đáp ứng EUDR chủ yếu là các sáng kiến của các DN tư nhân, như mô hình của Công ty Mai Vĩnh, Việt Sing, Thuận lợi, thực hiện thông qua việc liên kết các hộ tiểu điền và các đại lý, tổ chức chuỗi cung nhằm đảm bảo truy xuất nguồn gốc và đáp ứng yêu cầu của EUDR về tính hợp pháp và không gây mất rừng. Sản phẩm “cao su đáp ứng EUDR” từ các mô hình này đã được xuất khẩu sang EU với mức giá cao hơn sản phẩm thông thường từ $150 tới $300/tấn. “Nhu cầu của thị trường trong tương lai rất lớn. Chúng tôi sẽ mở rộng quy mô sản xuất để đáp ứng thị trường trong tương lai.” – Bà Đặng Thị Hoa Mai, Giám đốc công ty chia sẻ.

Ảnh 3: Đại diện công ty cao su Mai Vĩnh chia sẻ về mô hình cao su tiểu điền tại đây. Nguồn: Forest Trends
Mô hình “Cao su đáp ứng EUDR” của Việt Nam đang thu hút sự quan tâm đặc biệt từ ngành cao su Campuchia và Lào. Trong ba ngày từ 18 đến 20/6/2025, đoàn đại biểu gồm đại diện Tổng cục Cao su Campuchia, một số doanh nghiệp, hộ tiểu điền và Hiệp hội Cao su Lào đã thực hiện chuyến tham vấn và học hỏi tại Bình Dương và Bình Phước. Chương trình do Hiệp hội Cao su Việt Nam (VRA) phối hợp với Forest Trends và Oxfam Campuchia tổ chức. Mục tiêu của chuyến tham vấn là tìm hiểu mô hình thực tiễn đang triển khai tại Việt Nam, rút ra bài học kinh nghiệm và đánh giá khả năng áp dụng tại Campuchia và Lào. Đồng thời, đây cũng là cơ hội để ngành cao su ba nước thảo luận về các vấn đề pháp lý liên quan đến chuỗi cung ứng và mối liên hệ với tài nguyên rừng nhằm hướng tới phát triển bền vững toàn ngành trong khu vực.



Ảnh 4,5,6: Các đại biểu tham quan nhà máy cao su và vườn cao su của các hộ tiểu điền tại Bình Phước. Nguồn: Forest Trends
Đại diện của VRA, bà Phan Trần Hồng Vân, cho biết: “VRA cam kết đồng hành cùng các bên trong việc nâng cao năng lực đáp ứng EUDR và các yêu cầu mới của thị trường. Chúng tôi tin rằng chia sẻ kinh nghiệm giữa các quốc gia sản xuất là cần thiết để hướng tới phát triển bền vững và minh bạch chuỗi cung. VRA sẽ tiếp tục phát huy vai trò cầu nối, thúc đẩy hợp tác khu vực và lan toả các mô hình tiên phong trong chuỗi cung cao su tiểu điền.” Đánh giá cao về các mô hình và hỗ trợ kết nối của các bên, Đại diện Tổng cục Cao su Campuchia, Bộ Nông Lâm Ngư nghiệp Campuchia, ông Nhean Sophea, cho biết “Bài học kinh nghiệm từ các doanh nghiệp và hộ tiểu điền cao su Việt Nam trong quá trình chuẩn bị đáp ứng EUDR là nguồn tham khảo rất quý báu đối với ngành cao su Campuchia. Chúng tôi sẽ nghiên cứu khả năng áp dụng những bài học này vào thực tiễn của ngành cao su Campuchia.” Bên cạnh đó, Chủ tịch Hiệp hội Cao su Lào, Tiến sĩ Bounthong Bouahom, nhận xét “C_ác mô hình hợp tác sản xuất cao su quy mô lớn và nông hộ tại Việt Nam, đáp ứng EUDR, rất đáng học hỏi. Hiệp hội Cao su Lào hiện đang phối hợp chặt chẽ với VRA và tổ chức Forest Trends về các hoạt động trong chuỗi cung. Chúng tôi kỳ vọng có thể hợp tác triển khai những mô hình này trong ngành cao su Lào._”

Ảnh 7: Các đại biểu tham gia chuyến tham vấn và học hỏi tại Bình Dương và Bình Phước. Nguồn: Forest Trends
Mọi thông chi tiết về sự kiện này liên hệ Ms. Lương Kim Anh (Email: kanh@forest-trends.org; Điện thoại: 0703014431).
Bình luận (0)
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên chia sẻ suy nghĩ của bạn!