Tokyo, ngày 21 tháng 5 năm 2025 — Nhằm thúc đẩy mối quan hệ hợp tác giữa doanh nghiệp Việt Nam và Nhật Bản trong lĩnh vực sản xuất và thương mại viên nén gỗ, tọa đàm chia sẻ, cập nhật tình hình thị trường và quy định pháp lý đối với sản phẩm viên nén gỗ của hai nước đã được tổ chức tại Tokyo bên lề Hội nghị Năng lượng Sinh học Châu Á 2025. Chương trình do Forest Trends phối hợp cùng Chi hội Viên nén Việt Nam (trực thuộc Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam – VIFOREST) và Hiệp hội Năng lượng Sinh khối (BPA) Nhật Bản phối hợp tổ chức.
Sự kiện thu hút nhiều đại diện từ các cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp sản xuất và thương mại viên nén hàng đầu của Việt Nam, cùng các nhà nhập khẩu, đơn vị sử dụng viên nén và các chuyên gia nghiên cứu về lĩnh vực năng lượng sinh khối tại Nhật Bản. Đây là diễn đàn quan trọng nhằm tăng cường hiểu biết, chia sẻ thông tin thị trường và cùng định hướng phát triển chuỗi cung ứng viên nén gỗ một cách minh bạch, bền vững và đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế.
Hình 1: Ông Keisuke Nakajima – Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Sinh khối (BPA) bày tỏ mong muốn tăng cường hợp tác với hiệp hội và doanh nghiệp Việt Nam

Nguồn: Forest Trends
Việt Nam – Nguồn cung viên nén quan trọng cho thị trường Nhật Bản
Theo báo cáo của TS. Tô Xuân Phúc, Giám đốc điều hành Chương trình Chính sách, Thương mại và Tài chính Lâm nghiệp (Forest Trends), Việt Nam hiện là quốc gia xuất khẩu viên nén lớn thứ hai thế giới. Trong năm 2024, Việt Nam đã xuất khẩu khoảng hơn 6 triệu tấn viên nén, trong đó riêng thị trường Nhật Bản chiếm 59,8% với 3,6 triệu tấn – tương đương gần 2/3 tổng lượng xuất khẩu của cả nước. Theo các doanh nghiệp, Việt Nam hiện là nhà cung cấp viên nén số 1 tại thị trường Nhật Bản. Ngoài ra, Hàn Quốc cũng là thị trường quan trọng, chiếm 34,2% về lượng và đạt gần 2,1 triệu tấn trong năm 2024. Lượng viên nén xuất khẩu của Việt Nam năm 2024 đã tăng gần 30% so với năm 2023.
Hình 2: Tổng quan tình hình xuất khẩu viên nén của Việt Nam trong năm 2024

Nguồn: Minh họa của Forest Trends dựa trên kết quả tính toán từ dữ liệu của Hải quan Việt Nam
Kim ngạch xuất khẩu viên nén của Việt Nam đạt 805,2 triệu USD, tăng 18,5% so với năm trước. Giá xuất khẩu trong năm 2024 vẫn duy trì ở mức thấp hơn nhiều so với mức tăng nóng lên gần 200 USD/tấn năm 2022, đạt khoảng 133,5 USD/tấn. Giá xuất khẩu sang thị trường Nhật đạt trung bình 144,3 USD/tấn, không biến động nhiều so với năm 2023. Tuy nhiên, thị trường Hàn Quốc lại ghi nhận mức tăng đáng kể từ cuối năm 2024 đến nay từ hơn 100 USD/tấn lên hơn 130 USD/tấn (Hình 2).
Hình 3: Giá xuất khẩu viên nén trung bình của Việt Nam tại các thị trường chính đến hết Q1/2025

Nguồn: Nhóm nghiên cứu của Forest Trends và các hiệp hội gỗ phân tích từ dữ liệu của Hải quan Việt Nam
Theo lý giải của doanh nghiệp, các đối tác Nhật Bản ký hợp đồng dài hạn và có yêu cầu cao hơn về chất lượng và tính bền vững của sản phẩm nên chi phí sản xuất và giá bán cao hơn đáng kể và ổn định hơn so với các đối tác Hàn Quốc – vốn thường thu mua bằng hình thức đấu thầu theo tháng hoặc quý và không có yêu cầu cao về chất lượng và nguồn gốc sản phẩm như phía Nhật Bản. Do không có hợp đồng dài hạn, giá xuất khẩu sang Hàn Quốc thay đổi theo giá thị trường ngắn hạn và bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, đặc biệt là mức độ sẵn có của nguồn nguyên liệu. Ví dụ, khi hoạt động chế biến gỗ suy giảm, lượng phế phụ phẩm gỗ – nguyên liệu đầu vào chính của viên nén xuất đi Hà Quốc – cũng giảm theo, dẫn đến chi phí sản xuất và giá thành bán ra tăng lên.
Hình 4: Ông Nguyễn Thanh Phong – Chi hội trưởng Chi hội Viên nén gỗ Việt Nam chia sẻ về cơ cấu giá thành viên nén xuất khẩu

Nguồn: Forest Trends
Hiện Việt Nam có khoảng 90–100 nhà máy sản xuất viên nén, với tổng công suất ước đạt từ 4,5 đến 6 triệu tấn mỗi năm, trong đó trên 98% sản lượng dành cho xuất khẩu. Nguồn nguyên liệu chính đến từ gỗ nhập khẩu và gỗ rừng trồng trong nước. Trong đó, gỗ nhập khẩu cung cấp phế phụ phẩm (mùn cưa, dăm bào, gỗ vụn, đầu mẩu, v.v.) từ hoạt động chế biến các sản phẩm gỗ khác, bao gồm luồng cung từ nước có quản trị rừng tốt như EU, Mỹ, Canada, Nhật, v.v. và một phần nhỏ hơn đến từ gỗ nhiệt đới nhập khẩu từ các nguồn ít bền vững hơn như châu Phi, Lào. Gỗ rừng trồng chủ yếu keo, cao su và bạch đàn, với trữ lượng hàng năm lên đến hơn 30 triệu m³ gỗ rừng trồng, trong đó có khoảng 4–5 triệu m³ gỗ cao su, cung cấp nguyên liệu cho viên nén dưới dạng phế phụ phẩm như rác bóc, dăm bào, mùn cưa, cành nhánh, củi ngọn, đầu mẩu, v.v. Tuy nhiên, khi được giá như giai đoạn năm 2022, người dân cũng chặt cây gỗ nhỏ để làm viên nén (Hình 4).
Hình 5: Nguồn nguyên liệu đầu vào của viên nén

Nguồn: Forest Trends
Nguồn cung nguyên liệu cho viên nén còn nhiều tồn tại
Bản đồ phân bố sản lượng viên nén gỗ của Việt Nam (Hình 5) phản ánh sự phân bố của nguồn nguyên liệu đầu vào. Số liệu từ khảo sát của Forest Trends, IGES và Chi hội Viên nén cho thấy khu vực Đông Nam Bộ là trung tâm sản xuất viên nén lớn nhất với hơn 1,7 triệu tấn trong năm 2023, tiếp theo là Bắc Trung Bộ và Duyên hải Trung Bộ (860,7 nghìn tấn) và Trung du miền núi phía Bắc (516,7 nghìn tấn).
Hình 6: Bản đồ phân bố sản lượng viên nén gỗ của Việt Nam năm 2023

Nguồn: Minh họa của Forest Trends dựa trên dữ liệu khảo sát của Forest Trends phối hợp với IGES, VWPA và VIFOREST
Nguồn nguyên liệu đầu vào phân hóa mạnh mẽ theo khu vực. Ở khu vực miền Bắc, nguyên liệu chủ yếu đến từ phế phụ phẩm có nguồn gốc từ rừng trồng trong nước. Số lượng nông hộ nhỏ tham gia chuỗi cung ứng rất lớn nhưng đa phần chưa có chứng chỉ, bán trực tiếp cho thương lái hoặc xưởng chế biến nhưng chưa thực hiện chặt chẽ về hồ sơ, giấy tờ nguồn gốc gỗ, làm gia tăng độ phức tạp trong truy xuất nguồn gốc. Tại khu vực miền Trung, diện tích nguyên liệu là từ rừng trồng có chứng chỉ FSC, PEFC/VFCS tương đối lớn, nên việc truy xuất nguồn gốc được đánh giá là khả thi. Tuy nhiên, viên nén phải chịu sự cạnh tranh mạnh mẽ về nguyên liệu với ngành dăm tại khu vực này. Trong khi đó, miền Nam tập trung các nhà máy quy mô lớn, sử dụng phế phẩm gỗ thu mua từ các nhà máy chế biến (bao gồm cả nguồn trong và ngoài nước). Khu vực Nam Trung Bộ (tỉnh Bình Định) và Đông Nam Bộ (TP Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai) là các trung tâm chế biến đồ gỗ xuất khẩu. Các doanh nghiệp viên nén lớn nhất Việt Nam đã xây dựng những nhà máy viên nén có công suất cực lớn, trên 100,000 tấn/năm để tận dụng nguồn cung cấp dồi dào từ nhóm này. Tuy nhiên, khi hoạt động chế biến gỗ toàn ngành bị cắt giảm do tác động của suy thoái kinh tế kể từ sau đại dịch COVID-19 và tác động của hàng rào thuế quan do Mỹ áp đặt đầu năm 2025, nguồn nguyên liệu này cũng co hẹp đáng kể, khiến các doanh nghiệp viên nén phải cạnh tranh về nguyên liệu đầu vào, đặc biệt là với ngành ván dăm.
Hình 6: Bản đồ diện tích rừng được cấp chứng chỉ FSC (trái) và PEFC (phải) tính đến 9/5/2025 của Việt Nam


Nguồn: Forest Trends
Đến tháng 5/2025, tổng diện tích rừng được cấp chứng chỉ FSC tại Việt Nam đạt 469,500 ha, trong đó các tỉnh như Tuyên Quang, Bình Định, Hà Tĩnh là những địa phương có diện tích lớn nhất (Hình 6). Song song đó, diện tích rừng đạt chứng chỉ PEFC/VFCS trên toàn quốc đạt 215,400 ha, trong đó có tới 145,000 ha là rừng cao su được cấp chứng chỉ. Khu vực Đông Nam Bộ đóng vai trò chủ đạo với các tỉnh như Bình Phước (52,300 ha), Tây Ninh (38,600 ha) và Đồng Nai (11,000 ha). Ngoài ra, vùng Tây Nguyên cũng ghi nhận gần 41,000 ha được PEFC chứng nhận. Trong số các diện tích PEFC được chứng nhận, các diện tích cao su hiện đang cho thu hoạch mủ và sẽ được khai thác gỗ khi kết thúc chu kỳ lấy mủ, góp phần quan trọng vào nguồn cung ứng nguyên liệu hợp pháp và có khả năng truy xuất nguồn gốc cho ngành viên nén trong tương lai.
Việt Nam tăng cường khung pháp lý và chuẩn bị đáp ứng EUDR
TS. Trương Tất Đơ, đại diện Cục Lâm nghiệp – Kiểm lâm, Việt Nam đã giới thiệu hệ thống pháp lý chặt chẽ nhằm đảm bảo nguồn gốc gỗ hợp pháp, nổi bật là Hệ thống Đảm bảo Gỗ Hợp pháp Việt Nam (VNTLAS) – một cấu phần quan trọng trong việc thực thi Hiệp định VPA/FLEGT với EU.
Bên cạnh đó, Việt Nam đã ban hành Hướng dẫn tạm thời về tuân thủ Quy định chống mất rừng của EU (EUDR) vào tháng 2/2025, tổ chức nhiều khóa tập huấn cho doanh nghiệp và địa phương, đồng thời xây dựng cơ sở dữ liệu địa lý vùng trồng, hệ thống mã số vùng trồng và khuyến khích áp dụng kê khai số hóa trong hồ sơ truy xuất nguồn gốc.
Những nỗ lực này không chỉ giúp doanh nghiệp Việt Nam đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường EU, Nhật Bản mà còn nâng cao vị thế của Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu về sản phẩm gỗ hợp pháp và bền vững.
Thúc đẩy hợp tác kỹ thuật và thương mại
Sự kiện cũng là dịp để Việt Nam và Nhật Bản tái khẳng định cam kết hợp tác lâu dài trong lĩnh vực lâm nghiệp và năng lượng sinh khối, đặc biệt là phát hiện và khắc phục kịp thời các lỗ hổng pháp lý và rủi ro mất rừng trong chuỗi cung. Theo bản Biên bản ghi nhớ giữa Cục Lâm nghiệp Việt Nam và Cơ quan Lâm nghiệp Nhật Bản, hai bên sẽ tiếp tục phối hợp trong mở rộng chứng chỉ rừng, thúc đẩy sáng kiến REDD+ và tín chỉ carbon, chia sẻ công nghệ truy xuất nguồn gốc và giám sát rừng.
Hình 7: Các đại biểu đoàn Việt Nam – Nhật Bản tham gia tọa đàm

Nguồn: Forest Trends
Với sự tham gia chủ động của các bên liên quan và hệ thống pháp lý đang từng bước hoàn thiện, Việt Nam được kỳ vọng sẽ tiếp tục là đối tác chiến lược cung ứng viên nén gỗ ổn định, minh bạch và bền vững cho thị trường Nhật Bản trong bối cảnh toàn cầu hướng tới phát triển giảm phát thải carbon trong sản xuất, tiêu dùng.
Quý độc giả có thể xem lại bài trình bày và tài liệu tham khảo tại LINK
Bình luận (0)
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên chia sẻ suy nghĩ của bạn!