QUẢN TRỊ TÀI NGUYÊN

Tiểu vùng sông Mê Kông

alt

Quyền các-bon rừng ở Việt Nam: Thực tiễn và một số vấn đề lý luận

10.11.2025
Mekong Resources Governance

TẢI TÀI LIỆU

Trong bối cảnh Việt Nam đang triển khai các cam kết quốc tế về giảm phát thải khí nhà kính theo Công ước khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi khí hậu và Thỏa thuận Paris, rừng đóng vai trò quan trọng trong việc hấp thụ và lưu giữ các-bon, góp phần thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050. Ba thập kỷ qua, ngành lâm nghiệp Việt Nam đạt nhiều kết quả tích cực trong công tác bảo vệ và phát triển rừng, đóng góp quan trọng vào giảm phát thải và hấp thụ các-bon. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật hiện hành chưa có quy định cụ thể về trao đổi, chuyển nhượng, quyền sở hữu, quyền bù trừ kết quả giảm phát thải hay quyền sử dụng nguồn thu từ chuyển nhượng kết quả giảm phát thải từ rừng, dẫn đến những khoảng trống pháp lý trong thực tiễn triển khai.

Về mục tiêu, báo cáo được thực hiện nhằm: (i) Phân tích, làm rõ thực trạng khuôn khổ pháp lý và thực tiễn liên quan đến quyền các-bon rừng ở Việt Nam; (ii) Nhận diện những hạn chế, lỗ hổng pháp lý cần tiếp tục nghiên cứu; và (iii) Đề xuất hướng xác định quyền các-bon rừng, đồng thời kiến nghị sửa đổi, bổ sung một số văn bản pháp luật, trong đó có dự thảo Nghị định quy định về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng do Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề xuất.

Về kết quả phân tích, báo cáo chỉ ra rằng Việt Nam chưa có văn bản pháp luật quy định cụ thể về quyền các-bon rừng; tuy nhiên, hệ thống pháp luật hiện hành đã tạo cơ sở pháp lý để có thể xác định quyền các-bon rừng ở Việt Nam. Quyền các-bon rừng bao gồm nhiều thành tố, trong đó có ba thành tố có mối quan hệ mật thiết với nhau, gồm:

  • (i) Quyền sở hữu các-bon được hấp thụ, lưu giữ trong rừng;
  • (ii) Quyền mua, bán, chuyển nhượng kết quả giảm phát thải/tín chỉ các-bon; và
  • (iii) Quyền hưởng lợi từ việc mua, bán, chuyển nhượng kết quả giảm phát thải/tín chỉ các-bon rừng trên một diện tích đất nhất định trong một thời gian nhất định.

Về quyền sở hữu, báo cáo xác định rằng: Đối với rừng tự nhiên và rừng trồng do Nhà nước đầu tư toàn bộ, quyền sở hữu các-bon rừng thuộc về Nhà nước. Với chủ rừng được giao rừng thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước có thể công nhận quyền sở hữu các-bon rừng sau khi kết quả giảm phát thải, tín chỉ các-bon được tạo ra và được thẩm định rằng chủ rừng đã đóng góp vào NDC tương ứng với diện tích rừng được giao. Với rừng sản xuất là rừng trồng do tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đầu tư, quyền sở hữu các-bon rừng thuộc về các chủ rừng đó

Về cơ chế thực hiện, trong điều kiện hình thành thị trường các-bon, Nhà nước cho phép chủ rừng quản lý những khu rừng thuộc sở hữu toàn dân ký hợp đồng chuyển nhượng hoặc mua bán kết quả giảm phát thải, tín chỉ các-bon rừng sau khi đã đóng góp vào NDC tương ứng với diện tích rừng được giao và được quyết định sử dụng nguồn thu các-bon tùy thuộc vào loại hình chủ rừng. Nhà nước chỉ tham gia ký thỏa thuận chuyển nhượng, mua bán kết quả giảm phát thải, tín chỉ các-bon rừng đối với rừng thuộc sở hữu toàn dân trong phạm vi rộng (một tỉnh hoặc nhiều tỉnh) trong những trường hợp cần thiết.

Báo cáo khẳng định rằng các-bon là sản phẩm mới của rừng, tương tự như các sản phẩm khác của rừng (gỗ, củi, hoa, quả, dầu, nhựa…) nhưng là sản phẩm vô hình. Do đó, việc phân phối nguồn thu này cần phù hợp với chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) và các chính sách khai thác, sử dụng lâm sản hiện hành, đồng thời có điều chỉnh để đáp ứng yêu cầu của dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng và thông lệ quốc tế.

Về các kiến nghị chính sách, báo cáo đề xuất:

  • Giao Bộ Nông nghiệp và Môi trường làm cơ quan đầu mối quản lý nhà nước về các-bon, Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm là cơ quan giúp Bộ tổ chức thực hiện các nhiệm vụ này.
  • Cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Bộ luật Dân sự 2015, Luật Lâm nghiệp 2017, Luật Quản lý, sử dụng tài sản công và các văn bản pháp luật có liên quan;
  • Bổ sung quy định về quyền sở hữu, quyền sử dụng các-bon rừng trong Luật Lâm nghiệp;
  • Bổ sung quy định coi các-bon được hấp thụ và lưu giữ trong rừng là một loại lâm sản;
  • Bổ sung quy định về quản lý Nhà nước đối với các-bon rừng, bao gồm việc điều tra, kiểm kê, theo dõi diễn biến rừng, xây dựng cơ sở dữ liệu và bản đồ các-bon rừng;
  • Xây dựng quy trình, thủ tục lập và thẩm tra dự án đầu tư tín chỉ các-bon rừng, phát hành tín chỉ, cơ chế tài chính và chia sẻ lợi ích phù hợp với từng loại dự án;
  • Giao Bộ Nông nghiệp và Môi trường làm cơ quan đầu mối quản lý nhà nước về các-bon, Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm là cơ quan giúp Bộ tổ chức thực hiện các nhiệm vụ này.

Vui lòng xem báo cáo chi tiết bên dưới.

Bình luận (0)

Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên chia sẻ suy nghĩ của bạn!

Viết bình luận