QUẢN TRỊ TÀI NGUYÊN

Tiểu vùng sông Mê Kông

alt

Đổi mới chính sách giao khoán đất lâm nghiệp trong thời kỳ hội nhập

Lĩnh vực khác
27.04.2025
Mekong Resources Governance

TẢI TÀI LIỆU

Ngày 25/4/2025, Hội Khoa học Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (VIESARD) và Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đã phối hợp tổ chức Hội thảo “Thực trạng và đề xuất giải pháp giao khoán đất lâm nghiệp trong các công ty lâm nghiệp” tại Hà Nội. Hội thảo đã thu hút sự quan tâm có nhiều cơ quan, tổ chức trong nước và quốc tế. Hơn 200 đại biểu tham gia trực tiếp và trực tuyến đã chia sẻ nhiều thông tin về thực trạng của chính sách khoán đất lâm nghiệp, các vấn đề bất cập và đề xuất những biện pháp cần thiết để đổi mới chính sách này nhằm thích ứng với những xu hướng quan trọng của Việt Nam và cộng đồng quốc tế trong thời kỳ hội nhập.

Ảnh 1: Lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Ban Chính sách và Chiến lược Trung ương và Hội Khoa học Kinh tế Nông nghiệp và PTNT cùng chủ trì hội thảo với sự tham gia của nhiểu sở, ban ngành địa phương

Hội thảo về giao khoán đất lâm nghiệp với sự tham gia trực tiếp và trực tuyến từ nhiều đại biểu, có hình ảnh phía sau là phong cảnh rừng núi.

Nguồn: Forest Trends

Được ban hành lần đầu vào năm 1995, chính sách khoán đất lâm nghiệp trong các công ty lâm nghiệp đã trải qua nhiều lần cải cách lớn trong bối cảnh tình hình kinh tế xã hội và khung chính sách của Việt Nam có nhiều thay đổi. Nghị định 01/CP năm 1995 của Chính phủ đã mở cửa cho cơ chế giao khoán đất sử dụng cho sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản trong các doanh nghiệp quốc doanh. Đây là một chính sách quan trọng, ra đời với sứ mệnh lịch sử nhằm phủ xanh đất trống đồi trọc và tạo thêm sinh kế cho người dân sinh sống gần rừng trong bối cảnh đất nước vừa trải qua hai thập kỷ khó khăn sau chiến tranh. Người dân địa phương được nhận đất lâm nghiệp giao khoán từ các lâm trường quốc doanh với thời hạn lên đến 50 năm để tự tổ chức sản xuất hoặc bảo vệ rừng, đổi lấy tiền hoặc lương thực hỗ trợ từ nhà nước. Hình thức này còn được gọi là Khoán 01. Trong giai đoạn sau đó, Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị định số 135/2005/NĐ-CP năm 2005 (gọi tắt là Khoán 135) và Nghị định số 168/2016/NĐ-CP năm 2016 (gọi tắt là Khoán 168) nhằm cải cách, tăng cường tính pháp lý của chính sách giao khoán. Thời hạn giao khoán cũng được rút ngắn dần xuống dưới 20 năm, khoán theo chu kỳ, theo công việc. Riêng khoán bảo vệ rừng được giao hàng năm. Tuy nhiên, trong suốt 30 năm triển khai, chính sách này đã bộc lộ nhiều bất cập.

Với sự hỗ trợ của tổ chức Forest Trends, Hội Khoa học Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (VIESARD) đã phối hợp với Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) và Vụ Kinh tế ngành (Ban Chính sách và Chiến lược Trung ương) đã tiến hành gửi công văn khảo sát tất cả các công ty lâm nghiệp (CTLN) trên cả nước kết hợp khảo sát thực địa tại 7 tỉnh trong Quý 1 năm 2025 nhằm rà soát, đánh giá thực trạng giao khoán đất lâm nghiệp trong các CTLN. Kết quả nghiên cứu sẽ được sử dụng để kiến nghị chính sách nhằm đề xuất giải pháp tổ chức sản xuất, giao khoán nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất, quản lý tài nguyên rừng bền vững, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các CTLN trong giai đoạn tới.

Ảnh 2: Chính sách khoán ra đời với nhiều nhiệm vụ kinh tế, xã hội quan trọng

Infographic illustrating the advantages of forest land leasing policies in agriculture, highlighting topics such as environmental responsibility, stable income for citizens, contributions to social security, and community engagement in forest protection.

Nguồn: VIESARD

Từ năm 2005-2012, các lâm trường quốc doanh đã được sắp xếp, chuyển đổi mô hình hoạt động thành các công ty TNHH một thành viên, hai thành viên 100% vốn nhà nước, công ty cổ phần và các đơn vị sự nghiệp có nguồn thu như ban quản lý rừng, v.v., giải thể các lâm trường hoạt động không hiệu quả. Ngày 17/12/2014, Chính phủ đã ban hành tiếp Nghị định số 118/2014/NĐ-CP về sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nông lâm nghiệp, trong đó yêu cầu các CTLN tiến hành triển khai thực hiện việc rà soát, đo đạc, lập bản đồ, hồ sơ địa chính, phê duyệt phương án sử dụng đất phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngoài ra, các diện tích đất sử dụng không hiệu quả sẽ được giao về địa phương để quản lý, sử dụng. Tuy nhiên, công tác sắp xếp các công ty lâm nghiệp diễn ra chậm, nhất là sắp xếp theo mô hình thành lập công ty TNHH hai thành viên, ảnh hưởng đến kế hoạch sản xuất kinh doanh của công ty và công tác giao khoán.

Theo Vụ Kinh tế ngành, Ban Chính sách và Chiến lược Trung ương, khoán rừng và đất lâm nghiệp là chính sách lớn của Đảng và Nhà nước với mục tiêu tạo động lực kinh tế khuyến khích người dân tham gia bảo vệ và phát triển rừng. Nghị quyết số 18 và 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã nêu rõ chủ trương của nhà nước tạo chính sách ưu đãi nhằm hỗ trợ hộ nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số có đất sản xuất, tạo sinh kế, đồng thời bảo vệ các loại rừng. Đối với chính sách khoán, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 28/NQ-TW năm 2003, Nghị quyết 30-NQ/TW năm 2014 và Kết luận số 103-KL/TW ngày 02/12/2024 về sắp xếp, đổi mới và phát triển nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty lâm nghiệp, trong đó đề ra nhiệm vụ xử lý các trường hợp đất của CTLN bị lấn chiếm, tranh chấp trong thời gian dài nhằm ổn định tình hình an ninh, xã hội và phát triển kinh tế ở các khu vực biên giới, vùng sâu, vùng xa. Tuy nhiên, trên thực tế, việc đưa ra các giải pháp xử lý hài hòa giữa quyền lợi của nhà nước, doanh nghiệp và người nhận khoán vẫn còn nhiều thách thức, đặc biệt trong bối cảnh công tác quản lý, sử dụng đất đai có nguồn gốc từ lâm trường còn nhiều yếu kém, hệ thống thông tin dữ liệu đất lâm nghiệp chưa được đồng bộ từ trung ương tới địa phương.

Việc quản lý, lập và phê duyệt phương án sử dụng đất và đưa vào khai thác, sử dụng phần diện tích lâm trường bàn giao về cho địa phương còn chậm và gặp nhiều khó khăn. Theo TS. Nguyễn Bá Ngãi, trong số gần 380 ngàn ha đất giao về địa phương quản lý, sử dụng thì có hơn 120 ngàn ha, tương đương khoảng 23,6%, thuộc diện đất bị lấn chiếm, tranh chấp hoặc cấp trùng, đến nay vẫn chưa giải quyết được. Nhóm đất giao về địa phương chủ yếu thuộc diện đất trống đồi trọc, đất xấu, bị xói mòn, bị phân chia manh mún do tự do lấn chiếm, sử dụng, có tính pháp lý không rõ ràng và thiếu quy hoạch, kế hoạch sử dụng hiệu quả. Nhà nước cần đơn giản hóa thủ tục giao đất từ các công ty lâm nghiệp về địa phương và có các chính sách hỗ trợ địa phương nhằm quản lý, sử dụng các diện tích đất này hiệu quả, minh bạch hơn.

Ảnh 3: Diện tích rừng tự nhiên và rừng trồng (đơn vị: ngàn ha) giao cho các nhóm chủ rừng

Biểu đồ thể hiện diện tích rừng tự nhiên và rừng trồng được giao cho các nhóm chủ rừng tại Việt Nam, với số liệu từ các cơ quan và tổ chức khác nhau.

Nguồn: Tô Xuân Phúc

Theo báo cáo của TS. Tô Xuân Phúc, hiện tổng số diện tích các công ty lâm nghiệp khoán cho các hộ gia đình là trên 458.000 ha với nhiều hình thức khoán đang được áp dụng. Trong đó, hình thức khoán bảo vệ rừng là phổ biến nhất với các diện tích khoán theo hình thức này chiếm tới 66% tổng diện tích khoán của các công ty. Hiện trạng sử dụng các diện tích giao khoán đất cho hộ rất phức tạp. Ở nhiều nơi, người dân đã trồng cây nông nghiệp và công nghiệp dài ngày như cà phê, sắn, tiêu, điều, cây ăn quả, v.v. trên các diện tích đất lâm nghiệp được giao khoán. Nghị định 168 đã đưa ra các điều khoản chuyển tiếp cho phép công ty thanh lý hợp đồng khoán và thu hồi diện tích khoán trong trường hợp bên nhận khoán thực hiện không đúng hợp đồng, sử dụng diện tích nhận khoán sai mục đích hoặc chuyển nhượng trái pháp luật. Tuy nhiên, kết quả khảo sát cho thấy thực tế việc thực hiện điều khoản chuyển tiếp này đã gặp rất nhiều khó khăn ở nhiều địa phương do Nghị định 01 và Nghị định 135 đã cho phép người nhận khoán đầu tư dài hạn vào đất đai, bao gồm cả công trình hạ tầng như sân phơi, bể nước, hệ thống tưới tiêu, v.v.

Đại diện một số công ty lâm nghiệp tham gia hội thảo cũng chia sẻ về bản chất thì hợp đồng khoán là hợp đồng kinh tế thỏa thuận giữa công ty và hộ, dù khung pháp lý với chính sách khoán có thay đổi thì công ty vẫn phải tôn trọng và thực hiện các điều khoản trong hợp đồng. Do đó, các diện tích khoán có thời hạn lên tới 50 năm mà chưa hết hạn thì công ty cũng không thể tự ý thu hồi. Mặt khác, một số nơi có tình trạng hộ không chịu thanh lý hợp đồng khi hợp đồng cũ hết hạn hoặc không chịu ký hợp đồng khoán theo cơ chế mới, dẫn đến tranh chấp đất đai, xô xát với nhân viên công ty và có trường hợp đã phải mời cơ quan công an can thiệp. Việc thiếu cơ chế đền bù hợp lý và hướng dẫn thanh lý hợp đồng khoán đang tạo ra rào cản đáng kể đối với CTLN trong việc quản lý, sử dụng các diện tích đất này. Điều này khiến nhiều công ty quyết định chuyển giao các diện tích tranh chấp này về cho địa phương quản lý.

Trên thực tế, so với các hộ dân có diện tích đất lâm nghiệp nhỏ, nhiều thửa đất rời rạc và vốn đầu tư hạn chế, các CTLN có lợi thế rất lớn trong việc ứng dụng quản lý rừng bền vững, đặc biệt là việc cấp chứng chỉ rừng. Hiện tại, các CTLN ở Việt Nam đã được cấp chứng chỉ rừng bên vững cho khoảng 140 ngàn ha, chiếm 27% diện tích rừng có chứng chỉ của cả nước, dù chỉ quản lý khoảng hơn 300 ngàn ha rừng trồng. Chu kỳ thu hoạch cây gỗ ở các CTLN cũng dài hơn so với các hộ với hàm lượng khoa học kỹ thuật ứng dụng cao hơn, dẫn đến năng suất và chất lượng gỗ tốt hơn, cho giá trị cao hơn, phù hợp với chủ trương trồng rừng gỗ lớn của nhà nước. TS. Hà Công Tuấn – nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phụ trách lâm nghiệp, cho rằng cần đưa hợp đồng khoán về đúng bản chất là hợp đồng kinh tế thay vì kiêm cả chức năng an sinh xã hội trong giai đoạn trước đây. Cơ chế khoán không nên có các quy định cứng nhắc mà cần được xem như thỏa thuận dân sự về kinh tế giữa chủ rừng và bên nhận giao khoán để hai bên tự do đàm phán và thỏa thuận các hoạt động kinh tế trên đất khoán nhằm tối ưu hóa việc quản lý, sử dụng đất, tăng cường hiệu quả kinh tế và tăng nguồn thu cho ngân sách trên đất lâm nghiệp.

Ảnh 4: TS. Hà Công Tuấn cho rằng cần tách bạch chức năng an sinh xã hội ra khỏi chính sách khoán

Một diễn giả đang phát biểu tại hội thảo về giải pháp giao khoán đất lâm nghiệp, với màn hình lớn phía sau hiển thị thông tin sự kiện.

Nguồn: Forest Trends

Việc tháo gỡ vướng mắc về cơ chế khoán cho các CTLN, đặc biệt là với các diện tích có tranh chấp, lấn chiếm, có ý nghĩa quan trọng khi Việt Nam đang hội nhập ngày càng sâu vào nền kinh tế toàn cầu và chịu sự điều chỉnh của chính sách bảo vệ rừng, phát triển bền vững của các thị trường nhập khẩu như Quy định Chống mất rừng của EU (EUDR). Việc minh bạch hóa và hợp pháp hóa nguồn gốc đất đai là một bước quan trọng để đáp ứng yêu cầu về truy xuất nguồn gốc của nông-lâm sản – điểm cốt lõi trong yêu cầu thẩm định chuỗi cung ứng (due diligence) của các thị trường phát triển như EU, Mỹ, Nhật. Mặt khác, trong bối cảnh Việt Nam đang gấp rút xây dựng các chính sách về thị trường các-bon, việc giải quyết các vấn đề tồn tại trong cơ chế khoán cũng giúp làm rõ quyền lợi của chủ rừng và bên giao khoán đối với các nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng, bao gồm chức năng hấp thụ phát thải các-bon, mà trong đó tín chỉ các-bon rừng có thể được xem là một loại lâm sản ngoài gỗ. Kết luận hội thảo, ông Trần Quang Bảo – Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm – cho biết Cục sẽ tiếp tục phối hợp với Ban Chính sách và Chiến lược Trung ương tiếp tục tiếp thu các ý kiến góp ý về cải cách cơ chế khoán và sẽ đề xuất, tư vấn cho các cấp lãnh đạo của Đảng và nhà nước nhằm sớm giải quyết các vấn đề còn tồn tại trong cơ chế khoán trong thời gian tới.

Quý vị quan tâm vui lòng tham khảo các báo cáo tham luận tại hội thảo tại LINK TẢI TÀI LIỆU.

Bình luận (0)

Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên chia sẻ suy nghĩ của bạn!

Viết bình luận