Sản xuất và chế biến cao su là một trong những ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam. Năm 2022, kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng cao su của nước ta đạt hơn 6,7 tỷ USD, tăng 6,6% so với năm 2021. Trong đó, xuất khẩu cao su nguyên liệu và sản phẩm cao su đạt lần lượt gần 3,3 tỷ USD và hơn 3,4 tỷ USD. Lượng cao su thiên nhiên xuất khẩu dưới dạng cao su nguyên liệu đạt khoảng 2,1 triệu tấn.
Cao su nguyên liệu phục vụ chế biến của Việt Nam có nguồn gốc từ các vườn cao su trong nước (bao gồm cao su đại điền và tiểu điền) và từ nguồn nhập khẩu. Năm 2022, nguồn cung trong nước đạt khoảng 1,3 triệu tấn cao su thiên nhiên; nguồn nhập khẩu đạt 1,7 triệu tấn. Nguồn cung từ Lào và đặc biệt từ Campuchia có vai trò quan trọng nhất trong luồng cung nhập khẩu. Lượng cung từ Cam-pu-chia chiếm 83% và từ Lào chiếm 11% tổng lượng cao su thiên nhiên nhập khẩu vào Việt Nam năm 2022. Liên minh Châu Âu (EU) (gồm 27 nước thành viên) là thị trường xuất khẩu các mặt hàng cao su lớn thứ 3 của Việt Nam. Năm 2022, kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng cao su của Việt Nam vào EU đạt 587 triệu USD, tương đương 8,7% tổng kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng cao su của cả ngành.
Trung Quốc là thị trường xuất khẩu các mặt hàng cao su lớn nhất của Việt Nam. Kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này chiếm hơn 37% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả ngành. Năm 2022, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào Trung Quốc đạt hơn 2,4 tỷ USD. Trong đó, 2,2 tỷ USD thu được từ hoạt động xuất khẩu 1,6 triệu tấn cao su thiên nhiên. Trung Quốc cũng là nhà xuất khẩu lớn các mặt hàng cao su vào thị
trường EU.
Hiện không có số liệu thống kê về việc sử dụng cao su nguyên liệu đầu vào (trong nước: đại điền, tiểu điền; nhập khẩu: từ Cam-pu-chia, Lào) cho chế biến phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Chuỗi cung cao su hiện tại của Việt Nam tương đối phức tạp, khó có thể truy xuất nguồn gốc, đặc biệt đối với các chuỗi cung dài, nguyên liệu được nhập khẩu và sản phẩm cuối cùng được xuất khẩu ra thị trường
nước ngoài.
Nguồn cung cao su nguyên liệu của Việt Nam gồm có nguồn cung trong nước và nguồn cung nhập khẩu. Nguồn cung trong nước đến từ 918 nghìn ha cao su trong các vườn đại điền (sở hữu chủ yếu bởi các công ty thuộc Tập đoàn cao su) và tiểu điền (sở hữu bởi khoảng 265 nghìn hộ dân). Nguồn cung trong nước về cơ bản có mức độ rủi ro thấp, xét về khía cạnh gây mất rừng, do phần lớn diện tích trồng cao su có tính pháp lý rõ ràng.
Bình luận (0)
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên chia sẻ suy nghĩ của bạn!