Ngày 29/9/2026, tại Hà Nội, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam tổ chức hội thảo “Giải pháp dựa vào tự nhiên (NbS) nhằm phục hồi rừng sau khai thác khoáng sản và cơ hội tham gia thị trường carbon trong tương lai”. Hội thảo diễn ra trong khuôn khổ hợp tác giữa Trung tâm Chứng nhận Quản lý rừng bền vững thuộc Viện và tổ chức Forest Trends, với sự tham gia của đại diện cơ quan quản lý, viện nghiên cứu, chuyên gia và doanh nghiệp khai khoáng.
Hội thảo được tổ chức nhằm chia sẻ và tham vấn các kết quả nghiên cứu về mối liên hệ giữa hoạt động khai thác khoáng sản và mất rừng, đồng thời thảo luận về tiềm năng áp dụng các giải pháp dựa vào tự nhiên (Nature-based Solutions – NbS) trong phục hồi rừng sau khai thác khoáng sản, hướng tới giảm phát thải carbon, cải thiện khí hậu và tìm hiểu cơ hội tham gia thị trường carbon trong tương lai.
Các bài trình bày đã chia sẻ kết quả nghiên cứu về mối liên hệ giữa khai thác khoáng sản và mất rừng, khung pháp lý, ứng dụng viễn thám trong giám sát và các giải pháp phục hồi rừng, nghiên cứu kết hợp rà soát chính sách, phân tích dữ liệu không gian và khảo sát thực địa.
Khai khoáng tạo áp lực lớn lên rừng
TS. Tô Xuân Phúc, giám đốc điều hành của Forest Trends chia sẻ khai khoáng là nguyên nhân gây mất rừng lớn thứ 4, chiếm khoảng 7% diện tích mất rừng ở vùng nhiệt đới trên thế giới. Khai khoáng sản ngày càng tác động tới rừng như các mặt hàng có rủi ro mất rừng khác, nhưng các hệ thống quản trị hiện nay hiếm khi nhìn nhận như vậy. Các quy định về khai khoáng, đất đai, môi trường, tài chính và chuỗi cung ứng còn phân mảnh. Trường hợp khai thác vàng tại Ghana minh họa sự đan xen giữa áp lực sinh kế, nhu cầu quốc tế, quản lý đất yếu kém và hoạt động bất hợp pháp, làm suy giảm hiệu quả bảo vệ rừng.
Tại Việt Nam, kết quả giám sát được nhóm nghiên cứu tổng hợp cho thấy, Việt Nam được coi là quốc gia có nguồn tài nguyên khoáng sản đa dạng với hơn 5000 điểm mỏ của 60 loại khoáng sản. Trong giai đoạn 2015–2025, diện tích khai thác than, bao gồm khu mỏ và khu đổ thải, tăng khoảng 5.500 ha; diện tích rừng bị tác động khoảng 1.400 ha.
Phân tích chính sách cũng chỉ ra rằng hoạt động khai khoáng chịu sự điều chỉnh của nhiều lĩnh vực, từ khoáng sản, đất đai, lâm nghiệp đến bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, quản lý còn phân tán theo ngành, thiếu đồng bộ trong chia sẻ dữ liệu và phối hợp thực hiện. Việc đánh giá tác động gián tiếp, tác động tích lũy và giá trị sinh thái của rừng bị chuyển đổi còn hạn chế; công tác giám sát sau cấp phép cần được tăng cường.
Giải pháp dựa vào tự nhiên trong phục hồi rừng sau khai thác khoáng sản
Theo kết quả do nhóm nghiên cứu của ông Vũ Tấn Phương, Giám đốc Trung tâm Chứng nhận Quản lý rừng bền vững (VFCC), việc áp dụng các giải pháp dựa vào tự nhiên (NbS) trong phục hồi rừng sau khai thác khoáng sản có thể góp phần tái lập thảm thực vật, cải thiện đất và khôi phục chức năng hệ sinh thái, đồng thời mở ra triển vọng tiếp cận nguồn tài chính carbon cho doanh nghiệp và địa phương. Rừng phục hồi tại các khu vực sau khai thác có khả năng hấp thụ và tích lũy carbon, với mức độ khác nhau tùy điều kiện lập địa, loài cây và phương thức quản lý. Khả năng tạo tín chỉ còn phụ thuộc vào việc đáp ứng các yêu cầu về tính bổ sung so với nghĩa vụ phục hồi môi trường bắt buộc, cơ sở pháp lý và hệ thống đo đạc, báo cáo, thẩm tra (MRV). Qua đó, hoạt động phục hồi sau khai khoáng vừa đóng góp cho mục tiêu môi trường và khí hậu, vừa có thêm động lực kinh tế để duy trì hiệu quả bền vững.
Chia sẻ tại hội thảo, TS. Nguyễn Thành Long, thành viên nhóm nghiên cứu, nhấn mạnh sự cần thiết của việc tăng cường phối hợp giữa các quy hoạch về khoáng sản, lâm nghiệp, sử dụng đất và bảo tồn thiên nhiên. Đồng thời, cần đẩy mạnh chia sẻ dữ liệu liên ngành để hỗ trợ ra quyết định và giám sát biến động tài nguyên. Ông cũng đề xuất nâng cao chất lượng đánh giá tác động môi trường, xem xét đầy đủ các tác động trực tiếp, gián tiếp và tích lũy của hoạt động khai khoáng đối với cảnh quan và hệ sinh thái. Việc ứng dụng cơ sở dữ liệu không gian, công nghệ viễn thám và hệ thống thông tin địa lý (GIS) sẽ hỗ trợ theo dõi biến động rừng, tiến độ phục hồi và những thay đổi của cảnh quan, qua đó nâng cao hiệu quả quản lý trong suốt quá trình khai thác và sau khi đóng cửa mỏ.
Những kết quả và ý kiến trao đổi tại hội thảo sẽ là cơ sở để nhóm nghiên cứu tiếp tục hoàn thiện báo cáo, hướng tới các giải pháp phục hồi phù hợp với thực tiễn khai khoáng, bảo vệ tài nguyên rừng và đóng góp cho mục tiêu khí hậu.
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên chia sẻ suy nghĩ của bạn!
